Ngân hàng số - Bài cuối: Lấp đầy khoảng trống về chính sách

.
Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ, sự xuất hiện của công nghệ tài chính (Fintech) đã cung cấp những giải pháp tài chính mới trên nền tảng số và làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của ngành công nghiệp tài chính, ngân hàng. Chuyên gia ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu đã có cuộc trao đổi với BNEWS/TTXVN về những việc đã làm được, những bất cập cũng như đưa ra các gợi ý xung quanh vấn đề này.

Chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu. Ảnh: BNEWS

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của ứng dụng công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng?

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Công nghệ tài chính (Financial Technology viết tắt là Fintech), là một thuật ngữ được áp dụng trong việc kết hợp tài chính và công nghệ để hình thành các giải pháp sáng tạo trong các dịch vụ tài chính. 

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành ngân hàng trên thế giới đã có bước chạy rất xa với những công nghệ thông tin mới; trong đó có vai trò của công nghệ tài chính. Các ngân hàng Trung ương trên thế giới đầu tư rất nhiều hạ tầng cơ sở, con người vào các hoạt động của ngân hàng liên quan đến giám sát, thanh tra.

Lĩnh vực công nghệ tài chính phát triển khá nhanh tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây, thu hút được nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, đồng thời nhận được sự quan tâm rất lớn của các ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý.
 
Việt Nam có nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của lĩnh vực Fintech như quy mô dân số lớn với gần 95 triệu người, tỷ lệ người dân kết nối internet và sở hữu điện thoại thông minh ở mức cao, mạng di động phủ rộng khắp cả nước, giới trẻ ưa thích công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng về công nghệ thông tin dồi dào, trong khi đó tỷ lệ người dân trưởng thành sở hữu tài khoản ngân hàng còn ở mức thấp...
 
Có thể thấy, bên cạnh hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp Fintech sẽ đóng vai trò rất quan trọng cho việc thúc đẩy phổ cập tài chính tới số đông người dân Việt Nam, đặc biệt người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
 
Có thể thấy, công nghệ tài chính đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành ngân hàng. Hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, dữ liệu ngày càng lớn đòi hỏi ngân hàng trung ương phải có đầu tư về hạ tầng cơ sở, phần cứng, phần mềm, con người cũng như kỹ năng quản lý giám sát thanh tra để theo kịp sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng tài chính.
 
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã tổng kết Dự án Hệ thống thông tin quản lý và hiện đại hóa ngân hàng (Dự án FSMIMS). Được bắt đầu thực hiện từ năm 2009, đây là dự án đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước triển khai đồng bộ trên các  lĩnh vực của ngành ngân hàng như: chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, dự báo - thống kê, nghiệp vụ ngân hàng trung ương, thanh tra-giám sát ngân hàng, quản lý nguồn nhân lực, kế toán - tài chính, quản lý văn bản và điều hành, tăng cường năng lực. Dự án FSMIMS là sự kết hợp chặt chẽ giữa cải cách năng lực thể chế và hiện đại hóa công nghệ thông tin.

Tôi nghĩ rằng hiện tại chúng ta đã làm được nhiều nhưng vẫn còn những cải tiến mà ngân hàng trung ương phải thực hiện để làm tốt hơn chức năng là cơ quan quản lý cao nhất trong hệ thống ngân hàng.

Phóng viên: Có thể thấy lợi ích của công nghệ tài chính trong hoạt động ngân hàng, nhưng đi kèm là các rủi ro, đặc biệt là hệ thống pháp lý chưa theo kịp. Ông có thể nói rõ về điều này?

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Thời đại công nghệ thông tin phát sinh ra những sản phẩm trong ngành tài chính ngân hàng mà trước đây chúng ta chưa từng đối diện như dòng tiền ảo, hình thức vay ngang hàng (P2P lending)… đã đi trước hệ thống pháp luật của chúng ta.
 
Tại thời điểm này, ngoài một văn bản của Ngân hàng Nhà nước về việc không cho phép người dân, các thành phần kinh tế sử dụng đồng tiền kĩ thuật số để thanh toán, thì chưa có văn bản pháp lý nào định nghĩa đồng tiền kĩ thuật số là gì, có cho phép vận chuyển lưu hành trao đổi mua bán đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam hay không ? Đây là điều đang bỏ ngỏ.

Hay như hình thức cho vay ngang hàng, đây là mô hình kết nối trực tiếp giữa người có vốn và người cần vốn thông qua nền tảng trực tuyến. Tại Việt Nam, mô hình này phát triển ngày càng nhiều trong hơn 2 năm trở lại đây, nhưng do thiếu hành lang pháp lý, nên gây ra những rủi ro nhất định cho các bên tham gia.. 

Những ví dụ trên cho thấy, tại thời điểm hiện tại việc gia tăng sử dụng công nghệ trong cung cấp dịch vụ tài chính cùng sự phát triển của Fintech vượt quá khuôn khổ pháp lý hiện hành đã đặt ra yêu cầu cho Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý mới để quản lý giám sát thực thi các quy định tài chính nhằm đảm bảo an toàn hệ thống. 

Việc ban hành các quy định luật pháp đối với Fintech không chỉ phải giải quyết các thách thức đối với sự phát triển của Fintech, tạo ra một sân chơi công bằng giữa Fintech và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống, mà chủ yếu là các ngân hàng trung ương phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo công bằng trên thị trường và duy trì ổn định tài chính. 

Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp cận với Fintech một cách chủ động bằng việc thành lập Ban chỉ đạo về lĩnh vực Fintech với nhiệm vụ quan trọng là nhằm xây dựng khung pháp lý cho lĩnh vực này, tránh tạo ra khoảng trống về chính sách.

Phóng viên: Theo ông, Ngân hàng Nhà nước nên cải thiện vấn đề gì để nâng cao hạ tầng công nghệ, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành ngân hàng?

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý tối cao của hệ thống tài chính, ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước có chức năng là cơ quan quản lý tiền tệ, quản lý hệ thống ngân hàng, giám sát thanh tra định chế tài chính. Đồng thời, là đầu mối tiếp cận và liên hệ với tất cả ngân hàng trung ương trên thế giới về các vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ của quốc gia, những biến động tài chính ngân hàng trên thế giới.

Để thực hiện các chức năng trên, tôi cho rằng việc nâng cấp công nghệ thông tin của Ngân hàng Nhà nước từ hạ tầng cơ sở đến con người, kĩ năng là hết sức cần thiết. Các dữ liệu của hệ thống ngân hàng ngày càng lớn, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải có năng lực để có thể thu thập, lưu trữ các dữ liệu lớn này.
 
Ngành ngân hàng đã có nhiều động thái tích cực trong việc áp dụng các công nghệ mang tính đột phá trong hoạt động ngân hàng như ứng dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain). Đây là công nghệ cho phép lưu trữ và truyền tải dữ liệu thông qua các khối dữ liệu được mã hóa với tốc độ gần như tức thời và khả năng lưu trữ không hạn chế nhờ mạng lưới khổng lồ những máy tính liên kết với nhau. Đặc trưng của công nghệ này là tính bất biến và minh bạch, khi thông tin không thể bị thay đổi và dữ liệu mới chỉ có thể được bổ sung khi có sự đồng thuận của tất cả thành viên trong hệ thống.

Bên cạnh đó, các thông tin về ngân hàng còn nhiều giới hạn, không có nhiều những cập nhật mới chặt chẽ như các chỉ số về tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), thường phải đợi vào cuối quý mới có thông tin thay vì có hàng tháng.
 

Tới đây hệ thống xếp hạng tín dụng sẽ thực hiện cho tất cả các thành kinh tế, các ngân hàng thương mại cần phải xây dựng một cách  hoàn hảo và phổ biến các thông tin này cho đại bộ phận công chúng ở chừng mực nào đó phù hợp nhất.

Tôi cho rằng, với điều kiện của mình, Ngân hàng Nhà nước đã làm trong khả năng tốt nhất để cung cấp thông tin và bước đầu thành công trong việc xây dựng hệ thống quản lý tài chính hiện đại . Tôi kỳ vọng trong vòng 3 năm tới Ngân hàng Nhà nước sẽ có năng lực về  quản lý thanh tra giám sát và có  hệ thống thông tin đầu tư với việc sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.

Phóng viên: Ngân hàng Nhà nước hiện đang xây dựng cơ chế quản lý thử nghiệm công nghệ tài chính. Theo ông, Ngân hàng Nhà nước nên chú ý đến vấn đề gì khi xây dựng cơ chế này?

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu: Một số điểm Ngân hàng Nhà nước cần lưu ý là hệ thống tài chính cần được cập nhật thông tin nhanh, chính xác để các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính được kịp thời nắm bắt mọi thay đổi. Để làm được điều này thì hệ thống bộ máy của Ngân hàng Nhà nước phải được tăng cường để có thể thu thập tất cả các dữ liệu nhằm công bố nhanh nhất, đúng nhất.

Là cơ quan quản lý các hệ thống ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước cần bám sát các sản phẩm tài chính mới có trên thế giới để từ đó có thể quản lý tốt như: đồng tiền kỹ thuật số, hình thức vay ngang hàng… Theo đó, có cơ chế pháp lý, quy định toàn diện về các sản phẩm này. Chúng ta cần phải nhanh chóng hơn để có những quy định pháp luật kịp thời, tránh tạo ra những những khoảng trống về pháp lý.

Đồng thời, quản lý, thanh tra giám sát ngành ngân hàng theo tiêu chí mới cùng với việc xếp hạng các tổ chức tín dụng cần hoàn thiện sớm để có được hệ thống giám sát thanh tra theo kịp với ngành tài chính ngân hàng trên thế giới, từ đó Ngân hàng Nhà nước sẽ quản lý các ngân hàng thương mại hiệu quả.

Bên cạnh đó, với các thông tin của của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), tôi mong rằng CIC sẽ tiếp tục cải tiến để có hệ thống xếp hạng chấm điểm tín dụng cho tất cả người dân của Việt Nam.

Phóng viên:Xin cảm ơn ông !

>>>>>>>Ngân hàng số - Bài 1: Xu thế của thời đại

>>>>>>>Ngân hàng số - Bài 2: Bắt nhịp công nghệ số

>>>>>>>Ngân hàng số - Bài 3: Lấy khách hàng làm trọng tâm

>>>>>>>Ngân hàng số - Bài 4: Cái "bắt tay" giữa ngân hàng và Fintech

 
Nguồn: bnews.vn